Vải không dệt là gì?
Vải không dệt (Non-woven fabric) được cấu tạo từ các hạt Polypropylene – nhựa tổng hợp, tùy mục đích sử dụng có thêm thành phần tái chế. Nguyên liệu được kéo thành sợi riêng biệt và liên kết với nhau bằng dung môi hóa chất hoặc nhiệt cơ khí từ máy móc hiện đại, tạo ra tấm vải nhẹ, mỏng, xốp và có độ bền cao.
Vì không trải qua quá trình dệt như vải thông thường, chất liệu này được gọi là vải không dệt.
Thị trường vải vóc hiện nay rất sôi động, vải không dệt là một trong những loại được chú ý nhất. Tuy nhiên, thông tin về loại vải này chưa phổ biến, và tồn tại các khái niệm khác nhau về thành phần, chất liệu, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi tự áp mã số thuế nhập khẩu cho hàng hóa như vải lót, khăn ướt, khẩu trang, túi quảng cáo. Ngày 19/05/2017, Viện Dệt may tại Công văn số 143/CV-VDM đã hướng dẫn cụ thể cách phân loại mặt hàng này.

Phân loại HS code cho mặt hàng vải không dệt
Theo định nghĩa của Viện Dệt may, sợi Filament (xơ dài liên tục) nhân tạo khi bị cắt ngắn sẽ được gọi là xơ staple (xơ sợi ngắn) nhân tạo.
Căn cứ biểu thuế xuất nhập khẩu năm 2018 theo Quyết định 45/2017/QĐ-TTg (thay thế Phụ lục tại Quyết định 36/2016/QĐ-TTg):
- Chương 5603: Các sản phẩm không dệt, đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng phủ hoặc ép lớp.
- Nếu vải không dệt xác định hoàn toàn hoặc chủ yếu bằng sợi Filament nhân tạo (tỷ lệ sợi Filament nhiều hơn xơ staple) → phân nhóm 5603.1x – Từ sợi Filament nhân tạo.
- Nếu vải không dệt xác định chủ yếu bằng xơ staple (tỷ lệ sợi Filament ít hơn xơ staple) → phân nhóm 5603.9x – Loại khác.
Tùy theo định lượng của sản phẩm, sẽ áp mã phân nhóm cụ thể trên biểu thuế.
Chứng từ khai báo hải quan khi nhập khẩu vải không dệt
- Sales contract (Hợp đồng thương mại)
- Commercial Invoice (Hóa đơn thương mại)
- Packing List (Phiếu đóng gói hàng hóa)
- Bill of lading (Vận đơn đường biển)
- Certificate of Original (Giấy chứng nhận xuất xứ: C/O form E, C/O form AK, C/O form D,…)