# Các phương thức thanh toán quốc tế
Có 6 phương thức thanh toán quốc tế cơ bản. Mỗi phương thức có mức độ an toàn và chi phí khác nhau. Việc lựa chọn phụ thuộc vào mối quan hệ với đối tác, mức độ rủi ro của giao dịch và quy định của quốc gia liên quan.

Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà khách hàng của ngân hàng (người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định. Với hình thức chuyển tiền trả sau, người xuất khẩu gặp bất lợi nếu hàng đã gửi đi mà người nhập khẩu chậm lệnh chuyển tiền, dẫn đến chậm thanh toán. Ngược lại, với chuyển tiền trả trước, rủi ro thuộc về nhà nhập khẩu: đã trả tiền nhưng chưa nhận hàng do người xuất khẩu giao chậm.
Tham khảo: [PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN (REMITTANCE) TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ](/vi/tin-tuc/phuong-thuc-chuyen-tien-remittance-trong-thanh-toan-quoc-te-35/)
Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ ra đời nhằm khắc phục yếu điểm của chuyển tiền trả sau, bảo vệ quyền lợi nhà xuất khẩu. Người xuất khẩu sau khi giao hàng thì ủy thác ngân hàng thu hộ tiền từ người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập.
Các thành phần tham gia:
- Người xuất khẩu – người ủy thác thu: Principal
- Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu – ngân hàng được ủy thác thu: Remitting bank
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (ngân hàng nước người nhập khẩu): Collecting bank
- Người nhập khẩu hoặc người được chỉ định: Drawee
Phân loại nhờ thu
- Nhờ thu trơn – clean collection: nhờ thu chứng từ tài chính không kèm chứng từ thương mại.
- Nhờ thu chứng từ – documentary collection:
- Chứng từ tài chính kèm chứng từ thương mại. - Chứng từ thương mại không kèm chứng từ tài chính.
Trong thanh toán ngoại thương, nhờ thu chứng từ được dùng phổ biến hơn.
Nhờ thu trơn
- Người XK giao hàng/cung ứng dịch vụ và gửi chứng từ cho người NK.
- Ký phát hối phiếu và viết chỉ thị nhờ thu gửi ngân hàng phục vụ mình.
- Ngân hàng chuyển hối phiếu và chỉ thị nhờ thu cho ngân hàng đại lý ở nước người NK.
- Ngân hàng thu hộ xuất trình hối phiếu cho người trả tiền.
- Người trả tiền trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu.
- Ngân hàng thu hộ chuyển tiền hoặc hối phiếu đã chấp nhận cho ngân hàng chuyển.
- Ngân hàng chuyển trả tiền hoặc hối phiếu đã chấp nhận cho người xuất khẩu.
Nhờ thu chứng từ
- Người XK giao hàng cho người NK.
- Lập chứng từ thương mại có hoặc không kèm hối phiếu và viết chỉ thị nhờ thu gửi ngân hàng phục vụ mình.
- Ngân hàng chuyển bộ chứng từ và chỉ thị nhờ thu cho ngân hàng đại lý ở nước người NK.
- Ngân hàng thu hộ xuất trình chứng từ cho người nhập khẩu.
- Người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả hối phiếu để nhận chứng từ nhận hàng.
- Ngân hàng thu hộ chuyển tiền hoặc hối phiếu đã chấp nhận cho ngân hàng chuyển (nếu được yêu cầu, ngân hàng thu hộ có thể giữ hối phiếu đến hạn thanh toán rồi thu tiền và chuyển trả).
- Ngân hàng chuyển trả tiền hoặc hối phiếu đã chấp nhận cho người xuất khẩu.
Nhờ thu chứng từ bảo vệ người xuất khẩu tốt hơn nhờ thu trơn vì ngân hàng khống chế chứng từ hàng hóa. Người nhập khẩu phải trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền mới nhận được chứng từ. Tuy nhiên, việc thu tiền vẫn chưa chắc chắn:
- Với điều kiện nhờ thu trả tiền giao chứng từ – documents against payment (D/P): người xuất khẩu vẫn kiểm soát hàng sau khi giao, nhưng nếu người nhập khẩu không nhận hàng và không trả tiền, người xuất khẩu phải tốn thời gian và chi phí để thu hồi vốn và xử lý lô hàng.
- Với điều kiện nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ – documents against acceptance (D/A): người xuất khẩu mất quyền kiểm soát hàng sau khi hối phiếu được chấp nhận, việc thu tiền phụ thuộc vào thiện chí của người nhập khẩu.
- Nếu hàng gửi bằng đường hàng không hoặc phương tiện khác, vận đơn hàng không hoặc chứng từ tương tự không phải là chứng từ sở hữu hàng hóa, nên hàng có thể được giao cho người nhập khẩu trong khi thanh toán chưa thực hiện.
Thư tín dụng (Letter of Credit L/C)
L/C là văn bản do ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, cam kết trả tiền cho người thụ hưởng (người xuất khẩu) khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. L/C thương mại hay L/C chứng từ được hình thành trên cơ sở hợp đồng nhưng độc lập hoàn toàn với hợp đồng.
Tham khảo: [PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG L/C TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ](/vi/tin-tuc/phuong-thuc-thanh-toan-bang-lc-trong-thuong-mai-quoc-te-36/)
Phương thức ghi sổ (Open account)
Người bán mở tài khoản ghi nợ người nhập khẩu, người nhập khẩu trả tiền vào thời điểm xác định trong tương lai. Phương thức này chỉ an toàn khi hai bên tin cậy lẫn nhau, đã giao dịch nhiều lần và người mua có uy tín.
Phương thức ghi sổ có nhiều rủi ro. Ngân hàng không tham gia với chức năng mở tài khoản và thanh toán. Đến kỳ thanh toán, nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình để trả nợ. Chỉ nhà xuất khẩu mở tài khoản ghi chép các khoản tiền hàng; nhà nhập khẩu nếu có mở tài khoản thì chỉ để theo dõi, không có giá trị thanh toán.
Quy trình thực hiện:
- Nhà xuất khẩu giao hàng/dịch vụ và gửi chứng từ cho nhà nhập khẩu.
- Nhà xuất khẩu ghi nợ vào tài khoản và báo nợ trực tiếp cho nhà nhập khẩu.
- Định kỳ (tháng, quý, nửa năm) nhà nhập khẩu chuyển tiền qua ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu.
Để giảm rủi ro, chỉ áp dụng khi hai bên có quan hệ lâu dài và tin tưởng. Có thể kết hợp biện pháp bảo đảm như bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, đặt cọc.
Phương thức thư ủy thác mua hàng (Authority to Purchase – A/P)
Thư ủy thác mua là thư do ngân hàng nước nhập khẩu viết cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài theo yêu cầu của người nhập khẩu, yêu cầu ngân hàng này mua hối phiếu của người ký phát cho người nhập khẩu. Ngân hàng đại lý trả tiền cho hối phiếu, ngân hàng bên mua thu tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ.
Phương thức này áp dụng chủ yếu trong mua bán máy móc, thiết bị, sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật và công nghệ cao.
Có hai cách chuyển tiền sang ngân hàng nước xuất khẩu:
- Người nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình chuyển tiền đặt cọc 100% sang ngân hàng nước xuất khẩu để ngân hàng này phát hành A/P.
- Người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình phát hành A/P cho ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu hưởng và đặt cọc 100% trị giá A/P. Trên cơ sở A/P đó, ngân hàng nước xuất khẩu phát hành A/P đối ứng cho nhà xuất khẩu.
Bảo lãnh và tín dụng dự phòng
Bảo lãnh và tín dụng dự phòng là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Bảo lãnh là việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Trong xuất nhập khẩu thường có: bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh trả tiền ứng trước (hoặc tiền cọc); bảo lãnh hàng máy móc, thiết bị; bảo lãnh nhận hàng chưa có vận đơn gốc; bảo lãnh thanh toán.
Thư tín dụng dự phòng là cam kết không hủy ngang, độc lập, bằng văn bản. Người phát hành cam kết với người thụ hưởng thanh toán chứng từ xuất trình phù hợp với điều khoản của thư tín dụng dự phòng. Người phát hành thanh toán bằng chuyển tiền trả ngay, chấp nhận hối phiếu, cam kết trả tiền sau hoặc chiết khấu.
Bảo lãnh hoặc thư tín dụng dự phòng được kết hợp với các phương thức thanh toán khác để tăng độ an toàn. Trong giao dịch hàng hóa quốc tế, đặc biệt với hàng giá trị lớn như máy móc, thiết bị, các bên nên xem xét áp dụng các biện pháp này.